CHUNG QUANH BÀI THUỐC RƯỢU MINH MẠNG

Lương y LÊ QUÝ NGƯU

 

(Huế Xưa và Nay, số 13/1995)

 

 

Hiện nay, trong nước ta cũng như một số Việt kiều ở hải ngoại đều quan tâm tới bài thuốc ngâm rượu “Minh Mạng thang” và rất muốn tìm hiểu về bài thuốc này.

 

Đã có nhiều đơn vị xin cấp giấy đăng ký ở bộ y tế cho lưu hành về bài thuốc trên, trong đó có Thừa Thiên Huế. Tại trung ương, phòng thực nghiệm Viện Đông Y Việt Nam cũng đã thực nghiệm và phân tích độ độc hại hay không của rượu, được thí nghiệm trên chuột bạch và cũng đã có kết luận.

 

Là người Huế, người viết bài này cũng đã dụng công rất nhiều thời gian để truy cứu nơi xuất xứ của bài thuốc. Các sách có liên quan tới y dược triều Nguyễn nhất là tập ‘Nhật ký dược dụng“ chưa thấy bàn về vấn đề này.

 

Có lần tôi đến gặp cụ Trần Tiễn Hy, một lão y có tiếng ở miền Trung, từng giữ chức vụ trưởng ban nghiên cứu Tỉnh hội Đông y Thừa Thiên trước đây, cũng như cụ lương y Thảo ở Bao Vinh, học trò của ngự y Phạm Đạt thái y viện triều Nguyễn, để hỏi. Cuối cùng, cả hai cụ chỉ đều trả lời rằng chỉ nghe lưu truyền trong dân gian chứ chưa thấy sách vở nào nói tới.

 

Tương tuyền bài thuốc “Minh Mạng thang” là phương thuốc do ngự y triều Nguyễn nghiên cứu để phục vụ cho vua quan nhà Nguyễn (1802-1945). Vì bài thuốc có tác dụng đại bổ khí huyết, bổ thận tráng dương, tăng cường sinh lực, giúp ích cho thể chất cũng như tinh thần, từ hoạt động trí tuệ cũng như hoạt động sinh lý, cho nên bài thuốc này được gọi là “Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử”, về sau có người vẽ thêm chân: “Ngũ giao tam dựng”, “Nhất dạ lục giao sinh tứ tử”… có nghĩa là một đêm

sáu lần giao hợp thì sinh được năm người con hoặc năm lần giao hợp thì được ba lần đậu thai. Đó là những danh từ thật “kêu” phóng đại để chỉ tác dụng quí báu của

phương thuốc này. Tương truyền còn cho rằng, sở dĩ vua Minh Mạng (1820-1840) có hơn 100 người con cũng nhờ vào bài thuốc trên.

 

“Minh Mạng thang”, vua Minh Mạng có thật sự ngự dụng hay không, chưa cần bàn ở đây, nhưng dưới góc độ của y học cần phân tích để biết rõ những thành phần kết hợp của bài thuốc nhằm áp dụng tốt trong những thể dạng nào hoặc tình huống nào, vì không thể một bài thuốc mà dùng rộng rãi cho nhiều người được, nhất là về đông dược.

 

Qua nhiều năm sưu tầm phân tích 13 bài đang lưu truyền trong dân gian và lược bỏ để làm đề tài báo cáo đề tài cấp tỉnh “Nguồn gốc bài thuốc Minh Mạng thang và đề xuất bài thuốc thích hợp trong sản xuất rượu Minh Mạng”[1], chúng tôi liệt kê hai bài gồm:

 

Bài thứ nhất:

1. Bắc sa sâm (北沙参 Radix Glehniae)                                       5 chỉ [2]

2. Nhân sâm (人参 Radix Gingseng)                                             5 chỉ

3. Bạch phục linh (白茯苓 Poria)                                                    3 chỉ

4. Bạch truật (白术 Rhizoma Atractylodis Macrocephalae)         3 chỉ

5. Cam thảo (甘草 Radix Glycyrrhizae)                                          3 chỉ

6. Xuyên khung    (川芎 Rhizoma Ligustici Chuanxiong)              3 chỉ

7. Đương quy (当归 Radix Angelicae Sinensis)                           3 chỉ

8. Thục địa hoàng (熟地黄 Radix Rehmanniae Preparatae)       5 chỉ

9. Bạch thược (白芍 Radix Paeoniae Alba)                                 3 chỉ

10. Nhục quế (肉桂 Cortex Cinnamomi)                                       1 chỉ

11. Bắc đỗ trọng (北杜仲 Cortex Eucommiae)                            2 chỉ

12. Độc hoạt (独活 Radix Angelicae Pubescentis)                     2 chỉ

13. Khương hoạt (羌活 Rhizoma seu Radix Notopterygii)         2 chỉ

14. Tần giao (秦艽 Radix Gentianae Macrophyllae)                   2 chỉ

15. Phòng phong (防风 Radix Ledebouriellae)                           4 chỉ

16. Câu kỷ tử (枸杞子 Fructus Lycii)                                             2 chỉ

17. Xuyên tục đoạn (川续断 Radix Dipsaci)                                2 chỉ

18. Mộc qua (木瓜 Fructus Chaenomelis)                                   2 chỉ

19. Đại hồi (大茴 Fructus Anisi Stellati)                                       2 chỉ

20. Trần bì (陈皮 Pericarpium Citri Reticulatae)                         3 chỉ

21. Đào nhân (桃仁 Semen Persicae )                                        5 chỉ

22. Thương truật (苍术 Rhizoma Atractylodis)                            2 chỉ

23. Cao hổ cốt (虎骨膠 Gelatinum Tigeri)                                    5 chỉ 3

24. Bạch cúc hoa (白菊花 Flos Chrysanthemi)                           2 chỉ

25. Đại táo (大枣 Fructus Zizyphi Jujubae)                                  2 chỉ

 

 

Bài thứ hai:

1. Nhân sâm (人参 Radix Gingseng)                                            4 chỉ

2. Sinh cam thảo  (生甘草 Radix Glycyrrhizae)                           1 chỉ 5

3. Đương quy (当归 Radix Angelicae Sinensis)                         5 chỉ

4. Thục địa (熟地 Radix Rehmanniae Preparatae)                     4 chỉ

5. Bắc đỗ trọng (北杜仲 Cortex Eucommiae)                             3 chỉ

6. Câu kỷ tử (枸杞子 Fructus Lycii)                                               4 chỉ

7. Đại táo  (大枣 Fructus Zizyphi Jujubae)                                   5 chỉ

8. Sinh hoàng kỳ (生黄芪 Radix Astragali seu Hedysari)           5 chỉ

9. Hoàng tinh (黄精 Rhizoma Polygonati)                                     5 chỉ

10. Quế viên nhục (桂圆肉 Arillus Longanae)     [3]               5 chỉ

11. Ba kích thiên  (巴戟天 Radix Morindae Officinalis)               3 chỉ

12. Bạch cúc hoa (白菊花 Flos Chrysanthemi)                           2 chỉ

13. Hắc táo nhân  (黑枣仁 Semen Zizyphi Spinosae)                2 chỉ

14. Viễn chí (远志 Radix Polygalae)                                             1 chỉ

15. Xa tiền tử (车前子 Semen Plantaginis)                                 4 chỉ

16. Xà sàng tử (蛇床子 Fructus Cnidii)                                       1 chỉ 5

17. Nhục thung dung (肉苁蓉 Herba Cistanches)                       5 chỉ

18. Dâm dương hoắc (淫羊藿 Herba Epimedii)                        5 chỉ

 

Trong hai bài này do sự sao chép lẫn nhau, thỉnh thoảng có những vị thuốc không đồng nhất, thêm hoặc thiếu, tuy nhiên sự không đồng nhất giữa liều lượng cũng như vị thuốc đó không đến nổi sai lệch cho lắm.

 

- Qua phân tích bài thứ nhất, bài này có từ cổ phương “Độc hoạt ký sinh thang” rồi gia giảm mà thành. “Độc hoạt ký sinh thang” xuất xứ từ tác phẩm “Thiên kim phương” (năm 674) của tác giả Tôn Tư Mạo (581-682) vào đời Đường.

 

Thang này gồm có thành phần: Xuyên độc hoạt, Tang ký sinh, Đỗ trọng, Xuyên ngưu tất, Bắc tế tân, Tần giao, Bạch phục linh, Quế tâm, Phòng phong, Xuyên khung, Nhân sâm, Cam thảo, Đương quy, Bạch thược, Thục địa.

 

Công dụng của bài “Độc hoạt ký sinh thang” để trị can thận suy nhược, phong thấp làm cho lưng đùi rất đau, đau nhức lâu ngày, đau lưng khi cúi xuống hoặc ngưỡng lui.

 

Bài thứ nhất của “Minh Mạng thang” tức là dùng bài “Độc hoạt ký sinh thang” gồm các thành phần trên rồi bỏ đi các vị: Tang ký sinh, Bắc tế tân, Xuyên ngưu tất mà gia vào thêm các vị: Bạch truật, Khương hoạt, Câu kỷ tử, Tục đoạn, Mộc qua, Đại hồi, Trần bì, Đào nhân, Đại táo, Thương truật, Cao hổ cốt, có khi thay Nhân sâm bằng Bắc sa sâm.

 

Như vậy, trên phương diện phương tễ học của đông y mà nói, thì bài “Minh Mạng thang” số 1 kết hợp giữa bài “Thập toàn đại bổ” [4] nhằm đại bổ khí huyết và gia thêm hầu hết các vị thuốc trị phong thấp đau thắt lưng, nhức mỏi vùng hạ chi. Hay nói khác hơn, bổ can thận và trừ nhức mỏi chủ yếu từ thắt lưng trở xuống.

 

- Qua phân tích bài thứ hai, bài này có từ cổ phương “Quy tỳ thang” rồi gia giảm mà thành. “Quy tỳ thang” xuất xứ từ tác phẩm “Tế sinh phương” (năm 1253) của tác giả Nghiêm Dụng Hoà sống vào đời Tống.

 

Thang này gồm có thành phần: Đương quy thân, Nhân sâm, Bạch phục linh, Hoàng kỳ, Bạch truật, Long nhãn nhục, Toan táo nhân, Thanh mộc hương, Cam thảo, Viễn chí, Đại táo, Sinh khương.

 

Công dụng của bài “Quy tỳ thang” chủ yếu là bổ tâm tỳ, trị tỳ hư ăn ít ngủ kém, hay quên hồi hộp, phụ nữ rối loạn kinh nguyệt.

 

Bài thứ hai của “Minh Mạng thang” tức là dùng bài “Quy tỳ thang” gồm các thành phần trên rồi bỏ đi các vị: Gừng, Mộc hương, Bạch truật, Phục linh mà gia vào thêm các vị: Đỗ trọng, Kỷ tử, Hoàng tinh, Ba kích thiên, Bạch cúc hoa, Xa tiền tử, Xà sàng tử, Nhục thung dung, Dâm dương hoắc, Thục địa.

 

Như vậy, trên phương diện phương tễ học của đông y mà nói, thì bài “Minh Mạng thang” số 2 kết hợp giữa bài “Quy tỳ thang” giảm đi một số vị rồi gia thêm hầu hết các vị thuốc kích thích về sinh dục. Hay nói khác hơn, bổ tâm tỳ và kích thích dương khí lợi cho tình dục.

 

Tóm lại, phân tích về dược tính đông y của hai bài thuốc trên cho thấy rằng. Bài thứ nhất có tác dụng bổ can và thận nhằm làm mạnh lưng gối và trừ nhức mỏi từ thắt lưng trở xuống chân. Bài thuốc thứ hai có tác dụng bổ tâm và tỳ nhằm ăn ngon ngủ được bổ huyết kích thích hưng phấn cho tình dục.

 

Về phương thức ngâm thuốc, có người kết hợp thêm đường phèn để dễ uống, nhưng thật ra trong nguyên tắc ngâm rượu thuốc bắc ít khi người ta dùng đường, vị Cam thảo thay cho vị ngọt và để điều hoà giữa các vị thuốc với nhau. Thông thường, trong dân gian trước đây cũng như những người sành điệu về uống rượu thì thang thuốc số 1 được chia làm hai phần để ngâm. Vị Nhân sâm và Cao hổ cốt là vị thuốc quí hiếm nên được ngâm riêng ra một hũ [5], các vị thuốc còn lại được ngâm trong một hũ khác bịt kín chôn dưới đất ngoài trời ít nhất là 100 ngày (thường gọi: bách nhật hay ba tháng mười ngày) sau đó mới đào lên, chiết rượu ra trộn với rượu dầm riêng chứa cao hổ cốt và Nhân sâm, khuấy đều cất dùng từ từ. cứ mối lần trước khi đi ngủ uống một ly “mắt trâu” là được. sở dĩ người ta ngâm

lâu như thế mục đích để cho ra hết thuốc, các li tử thuốc trung hoà với nhau và làm giảm được nồng độ của rượu. Khi uống, người thưởng thức sẽ có cảm giác và mùi vị của thuốc; còn rượu, nhờ khí của rượu để dẫn thuốc đi khắp cơ thể, thẩm thấu cho nhanh.

 

Trên thực tế, hai bài thuốc trên là những bài thuốc bổ trong y học cổ truyền có thể dùng để chống lão hoá nếu biết dùng và kết hợp đúng đắn. Ngoài ra, nó còn thích hợp với đối tượng có yêu cầu về tình dục, phụ trợ thêm cho người có sẵn sức khoẻ và điều kiện dinh dưỡng tốt.

 

 

 


[1] Nguyễn Thanh Thọ, Lê Quý Ngưu, Phan Tấn Tô. Sở Khoa học công nghệ Thừa Thiên Huế, 1997

[2] 1 chỉ tương đương gần 4 gr.

[3] Riêng vị Quế viên nhục 桂圆肉(Arillus Longanae) là miếng cơm ngọt bọc quanh hạt trái nhãn lồng phơi khô còn gọi là Long nhãn nhục, vì thế mà nhiều người khi cân thuốc thường nhầm lẫn vị Quế viên nhục là Liên nhục (hạt sen).

[4] Thập toàn đại bổ gồm: bài Tứ quân (Sâm, Linh, Truật, Thảo) kết hợp với bài Tứ vật (Khung, Quy, Thục, Thược) gia thêm Nhục quế, Hoàng kỳ.

[5] Sở dĩ người ta tránh dầm chung là sợ dính thuốc quí vào xác của các vị thuốc khác.

Bài viết này có 0 bình luận

Viết một bình luận :