THÁI Y VIỆN TRIỀU NGUYỄN Xưa và Nay

 

THÁI Y VIỆN TRIỀU NGUYỄN

Xưa và Nay

 

Lương y Lê Quý Ngưu

 

Khi nói tới y học triều Nguyễn trên đất cố đô Huế, chúng ta thường liên tưởng tới Thái y viện, Ngự dược nhật ký. Ngoài ra, để đề cao nền y học cổ truyền, năm Minh Mạng thứ sáu (1825), triều Nguyễn đã cho xây dựng Tiên y miếu bên trái cạnh chùa Thiên Mụ thuộc huyện Hương Trà (Hương Long, Hương Trà ngày nay) để thờ cúng, tế tự các bậc danh y nổi tiếng đời xưa. Triều đình cho xây dựng một ngôi nhà ở phía Đông Bắc Hoàng cung ngoài cửa Hòa Bình (đường Đặng Thái Thân, phường Thuận Thành ngày nay) gọi là Bình an đường, làm nơi chữa bệnh sản phụ khoa và dưỡng bệnh cho các bà cung phi.

 

I. THÁI Y VIỆN

 

Nhìn lại một tổ chức y tế dưới thời các Vua triều Nguyễn, từ năm 1802 đến năm 1883 phỏng theo mô hình thời Hậu Lê để biết thêm một hoạt động khám chữa bệnh của thời xa xưa. Vua Gia Long (1802-1820) sau khi thống nhất đất nước, giành quyền về tay triều Nguyễn đã tổ chức ngành y dược theo hệ thống quan chức có phẩm hàm.

Nhiệm vụ chính của Thái Y Viện là chăm sóc sức khoẻ của hoàng gia, các quan trong triều và sau nữa là sức khoẻ của quân lính, dân chúng.

Các tác giả sách y dược đã được in dưới triều Nguyễn nay còn để lại là:

- Liệu dịch phương pháp toàn tập của tác giả Nguyễn Gia Phan (đời Gia Long).

- Đậu khoa y nạp của tác giả Trần Đức Hưng (1869 ?)

- Nam thiên đức bảo của tác giả Lê Trác Như (1880)

- Y môn hội anh của tác giả Bùi Văn Trung (1884)

- Vân Khê y lý yếu lục của tác giả Nguyễn Dịch (1885)...

Tại kinh đô Huế Thái y viện là một đơn vị y tế chủ yếu phục vụ cho nhà Vua, hoàng tộc và triều đình quan lại. Theo Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển 258 Thái Y Viện: “Năm Gia Long thứ nhất (1802) đặt Chánh y, Phó y không có số lượng nhất định. Năm Gia Long thứ tư chuẩn định: Thái y viện Ngự y, trật Chánh ngũ phẩm; Phó Ngự y, trật Tòng ngũ phẩm; Y viện, trật Tòng bát phẩm”.

Dưới triều Nguyễn, Thái Y viện là một nha môn có chuyên trách chăm sóc sức khỏe cho vua và hoàng thân quốc thích, cung tần, mỹ nữ cùng quan lại trong triều đình. Thái Y viện được thành lập vào năm Gia Long thứ nhất (1802) mãi đến năm 1804 cơ bản được hoàn thành.

Ban đầu, Thái Y viện được xây dựng ở phường Dưỡng Sinh trong kinh thành; năm Minh Mạng dời về phía đông Duyệt Thị đường, trong Tử Cấm Thành.

Năm Đồng Khánh thứ nhất (1886), nhà Dục Đức được chọn là cơ sở làm việc mới của Thái Y viện vì viện cũ sau khi xảy ra loạn lạc đã bị đốt phá. 


 Mộc bản sách Đại Nam thực lục, quyển 6 khắc về bộ máy tổ chức nhân sự của Thái Y viện dưới triều vua Minh Mạng

Đại Nam thực lục chánh biên (quyển 6)

(ghi lại bộ máy tổ chức nhân sự của Thái Y viện dưới triều vua Minh Mạng)

 

Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ (quyển 252-262)

(ghi lại bộ máy tổ chức nhân sự của Thái Y viện dưới triều Nguyễn)

Dưới triều vua Gia Long, bộ máy tổ chức của Thái Y viện còn sơ sài, đơn giản. Đến năm 1820, khi vua Minh Mạng lên ngôi, cơ cấu bộ máy Thái Y viện mới được hoàn chỉnh dần.

Văn giai theo quan chế các triều đại nhà Nguyễn:

1. Chánh ngũ phẩm

- Thái y viện đại sứ

2. Tòng ngũ phẩm

- Thái y viện sứ

3. Chánh lục phẩm

- Thái y viện ngự y chánh

4. Tòng lục phẩm

- Thái y viện y phó

5. Chánh thất phẩm

- Thái y viện biện nghiệm

6. Chánh bát phẩm

- Cục chánh (Giám tuyên đạt, Thượng y, Ngự dụng)

7. Tòng bát phẩm

- Tế sinh đường sứ

- Lương y chánh

8. Chánh cửu phẩm

- Tế sinh đường khán chẩn

- Sinh dược khố sứ

- Thiện y sở thiện y chánh

- Lương y phó

9. Tòng cửu phẩm

- Y học huấn khoa

Đứng đầu là quan:

- Chánh ngự y (hàm chánh ngũ phẩm), cấp phó có hai quan Phó ngự y (hàm tòng ngũ phẩm), tiếp đến là các quan:

- Y chánh (12 người, hàm chánh thất phẩm, bát phẩm và cửu phẩm), quan Y phó (12 người, hàm tòng thất phẩm, bát phẩm và cửu phẩm), dưới quan Y chánh là quan:

- Chánh y sinh (12 người, hàm chánh cửu phẩm) và Phó y sanh (30 người, hàm tòng cửu phẩm).

Ngoại khoa, có 20 người, gồm:

- Y chánh (2 người, hàm chánh bát phẩm), Phó y chánh (2 người, hàm tòng bát phẩm) và quan Y sinh (16 người, hàm tòng cửu phẩm).

Năm 1829, niên hiệu Minh Mạng thứ 10, người đứng đầu Thái Y viện được nâng lên chức Viện sứ hàm chánh tứ phẩm.

Đến năm 1833, thì đặt thêm chức Viện phán, giữ công việc ghi chép sổ sách, công văn.

 Chức năng chính của Thái Y viện là: “Hễ việc chữa bệnh phân biệt: hư, thực, âm, dương và phép trị gốc, ngọn, sau, trước hoặc những việc có liên quan đến thuốc thang toàn bộ đều giao cho Thái Y Viện”

 Với tầm quan trọng của một cơ sở chăm sóc sức khỏe đặc biệt là cho thiên tử nên việc tuyển chọn thầy thuốc vào Thái Y viện được công bố rộng rãi và không tuân theo một luật lệ nhất định nào cả. Những ai đã từng học nghề thuốc và hành nghề thầy lang giỏi dù ở hoàn cảnh nào, không kể nguồn gốc xã hội cũng đều có thể xét hạch vào tổ chức Thái Y viện thông qua việc tuyển chọn các Ngự y.

Bản khắc về dụ của vua Tự Đức (1852) cho biết: “Truyền chỉ cho các quan địa phương, đều xét hỏi trong hạt, có người nào quen nghề làm thuốc, được mọi người khen xuất sắc ở trong hạt, thì mỗi tỉnh chọn kỷ, lấy một đến hai người, kê rõ họ tên, tuổi, quê quán, rồi giao cho bộ Lễ, tổng hợp lại làm danh sách tâu lên. Sau đó cấp tiền lộ phí, cấp giấy cho lên kinh đô chờ đợi, rồi giao cho viện Cơ mật, Nội các, nơi Thị vệ hội đồng sát hạch, chia hạng tâu lên, đợi chỉ vua bổ dụng cho rộng nghề làm phúc. Nếu quan tỉnh để cho họ giấu giếm, trốn tránh, đến nỗi bỏ sót người giỏi, khi phát giác ra thì có lỗi không phải nhỏ”.

 Năm 1850 dưới thời Vua Tự Đức, tại Huế có một trường y học đầu tiên được thành lập mà nhân dân thường gọi là trường dạy thuốc (vị trí ngày nay là góc đường Hàn Thuyên và Đinh Tiên Hoàng) với mục đích đào tạo nhân sự cho Thái y viện do một Viện sứ đứng đầu điều hành. Hàng năm, trường dạy thuốc có mở một kỳ thi tuyển những thầy lang xuất sắc từ khắp nơi trong nước, những người trúng tuyển gọi là Y sinh, trật Tòng cửu phẩm. Việc huấn luyện y học ở các phủ, huyện do Học lại chuyên trách, học viên được cấp tiền mua dầu đèn. Viện sứ và các phụ tá chỉ phục vụ sức khỏe cho nhà Vua, Hoàng hậu, Hoàng tộc và các quan lại triều đình mà thôi.

Lịch trình làm việc của Thái Y viện được tuân thủ theo quy định hết sức nghiêm ngặt, chặt chẽ. Viện sứ và ngự y ngày đêm cắt lượt nhau chầu trực phòng khi có việc cần đến, còn các thuộc viên cũng đều túc trực ở viện để phụ giúp. Nếu trường hợp vua đi ngự tuần xa, thì Thái Y viện sẽ cử người mang thuốc tốt theo hầu, phòng khi vua gặp trường hợp bất trắc.

 Việc khám bệnh và dâng thuốc cho nhà vua được thực hiện thường xuyên và hết sức cẩn trọng. Không phải người nào trong Thái Y viện cũng được đến khám và chữa bệnh cho vua. Chỉ có những người am hiểu về mạch lý, phương pháp chữa bệnh rõ ràng, hiệu quả thì mới được cấp bài ngà vào ngự chẩn. Ngự y tham gia khám chữa bệnh cho vua, có khi chỉ 1 người, có khi 2 đến 4 người, hoặc nhiều hơn, tùy theo bệnh trạng. Người khám bệnh được chỉ định có thể là quan Ngự y, cũng có thể là các quan khác am tường về y thuật. Nhưng cũng có khi thầy thuốc không phải là người của Thái Y viện mà là một vị quan hay thầy lang giỏi rước ở ngoài vào.

Những người xem mạch cho vua thường được chọn trước. Như năm Minh Mạng thứ 19 (1838) chuẩn lời tâu: “Y chánh Thái Y Viện là Đặng Văn Giảng, Trần Duy Huân đều là người cẩn hậu, cấp cho bài ngà để vào cung xem mạch”. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843) thì chọn Y chánh Hoàng Đức Hạ, Y phó Nguyễn Văn Đường; thời Tự Đức chọn Nguyễn Tất Cát, Lê Quang, đều là người lão thành, am hiểu mạch, được đeo bài ngà vào cung xem mạch.

 Sau khi Ngự chẩn xong, Ngự y phải giải thích chứng bệnh cho vua biết. Sau đó trở về viện hội chẩn trị bệnh và kê đơn thuốc dâng lên. Nếu được vua ưng ý thì lập tức bào chế vị thuốc tinh khiết, thượng hạng, có công hiệu cao trong việc chữa bệnh. Trước khi cung tiến thuốc lên, thuốc đã được đường quan ở Viện và Nội các xem xét, kiểm tra kĩ lưỡng.

Nguồn thuốc này chủ yếu dựa vào chế độ thu thuế bằng dược liệu. Vua có quy định cho các địa phương nộp thuế bằng dược liệu theo từng loại vốn là thế mạnh “đặc sản” của từng địa phương, đồng thời định lượng số lượng thuốc phải nộp tính theo đầu người. Ngoài ra nguồn dược liệu còn do các Đông y, Thái Y viện tìm cách mua của Trung Quốc thông qua các nhà buôn thuốc người Hoa kiều.

Các y quan làm nghề thuốc, cứ 2 năm triều Nguyễn có chế độ định kỳ kiểm tra chất lượng và năng lực chữa bệnh. Các Ngự y trong Thái Y viện nếu chữa được khỏi bệnh cho người trong hoàng cung, đặc biệt là bệnh của vua thì vinh quang nhận được cũng ít ai sánh bằng.

Chẳng hạn khi dùng thuốc mà bệnh tình thuyên giảm, vua vui mừng ra sắc lệnh ban khen: “Thái Y viện dâng thuốc Ôn tạng hoàn, gần đây, ta dùng thuốc ấy có hiệu nghiệm trị được chứng giun để trừ bệnh hoạn trong bụng. Đáng khen là thuốc hay”. Vua Minh Mạng lập tức ban thưởng hậu đãi cho các Ngự y kỷ lục và tiền vàng, tiền bạc theo thứ bậc khác nhau. Ngoài ra, các quan Ngự y có công lớn cũng được thăng chức hàm: “Nguyên y phó Thái Y viện là Đặng Văn Chức, văn học khá thông, biết nghề chữa bệnh, làm việc đắc lực. Vậy gia ân thăng bổ Đặng Văn Chức làm Tả viện phán”.

 Còn vua Thiệu Trị vào năm 1847 cũng có Chỉ dụ: “Lần này hoàng tử lên đậu mùa, bệnh được tốt lành. Vậy gia ân cho những người trông coi việc thuốc thang là Y chánh Nguyễn Văn Hạnh được thăng thụ chức Hữu viện phán, Đoàn Công Loan cho chuyển bổ làm Tả viện phán”

Nhưng cũng có lần vì sơ suất mà Thái Y viện dâng thuốc lên, trong thuốc lại có mọt. Khi Nội giám xét ra, tâu lên thì Y chánh Đoàn Văn Hòa, Nguyễn Tăng Long đều bị giáng 4 cấp. Cũng có khi Thái Y viện kê thuốc không hiệu quả, vua Minh Mạng xuống dụ quở trách hai đại thần Cơ Mật viện là Nguyễn Kim Bảng và Trương Đăng Quế: “Từ nay, bản tâu về đơn thuốc do Thái Y viện dâng, các ngươi nên xét kỹ xem bài thuốc có hợp không. Hễ tôi con đối với vua cha khi có bệnh, không thể không biết đến bài thuốc, huống chi các ngươi đều là đại thần?”

Trường hợp nặng hơn, nếu vua uống thuốc mà vẫn trọng bệnh, chẳng may bị chết, ngay lập tức các quan ngự y trở thành kẻ phạm tội, bị bắt tống giam, mộc bản sách Đại Nam thực lục, đệ tam kỷ, quyển 163 có chép: “Giam hai thầy thuốc là Hoàng Đức Hạ và Đặng Công Tuấn vào ngục. Khi trước, Thánh tổ Nhân hoàng đế yếu nặng, bọn Hạ chữa thuốc không có công hiệu, đưa xuống đình thần bàn xét, đều nói là: bọn Hạ biết mà không nói, là bất trung; dám tự theo ý mình, là bất kính. Tội bất trung và bất kính không gì to bằng. Xin khép vào tội chém giam hậu”

 Mãi đến khi vua mới đăng quang là Thiệu Trị, vua xét rõ tội mới cho giảm án: “Bọn Hoàng Đức Hạ giữ việc chữa thuốc, ta vẫn thường gọi vào thăm bệnh, khi xem mạch hỏi bệnh, trông khí sắc, nghe tiếng nói, không phải là không kỹ, kê dâng phương thuốc không phải là không hiểu... theo lời đình nghị, giảm tội xuống, điều đi làm việc đồn điền ở trên nguồn”.                                           

Như vậy, có thể thấy cuộc sống của các Ngự y ngày đêm chăm lo sức khỏe cho Nội cung quả đúng với câu “làm bạn với vua như làm bạn với hổ”. Trách nhiệm công việc mà các Ngự y gánh vác thật nặng nề; hầu hết trong số họ khi vào khám chữa bệnh cho vua đều mang một tâm thế sợ hãi. Nhưng vì ý thức “sức khỏe là vàng” nên các Ngự y trong Thái Y viện cũng đã cố gắng làm hết chức phận của họ được giao.[1]

 

II. NGỰ VIỆN DƯỢC DỤNG

 

Châu bản triều Nguyễn có niên đại 1802 – 1945 là các tập tấu, phụng thượng dụ, chiếu, chỉ dụ, tư trình, sớ, bẩm…được đích thân vua ngự lãm hoặc ngự phê của các vị vua triều Nguyễn bằng mực màu son, truyền đạt ý chỉ hoặc giải quyết các vấn đề chính trị, quân sự, ngoại giao, kinh tế, văn hóa, xã hội, trong đó có y tế ...

 “Ngự dược nhật ký là những bài thuốc, cách dùng thuốc, cống thuốc, mua thuốc … của Thái Y viện được tìm thấy rãi rác trong Châu bản triều Nguyễn ghi chép qua các triều đại nhà Nguyễn.

 

Văn bản các triều đại Vu Việt Nam

Bút phê của vua Gia Long

 

Tờ khải của Thái Y Viện năm Gia Long thứ 18 (1819).

(Thái Y Viện, Phó Ngự y Đoàn Văn Hòa ghi về thang Bát vị hoàn có gia giảm, uống sớm tối cho vua. Vua Gia Long sau đó phê: “Tiết tiểu hàn đã qua, đang dần đến ấm áp, chính là lúc mong khỏe mạnh”.

  

Bản tấu của phòng văn thư (Thái Y Viện quan phòng) năm Minh Mạng thứ 3 (1822)

(Kê khai danh sách các y sinh giỏi hay kém. Vua phê, một số y sinh giỏi được thưởng từ 6-5 lạng bạc. Các y sinh yếu phạt đánh 60 trượng, 50 roi, 40 roi. Những người khác được miễn thưởng phạt).

 

Chánh Ngự y Thái Y Viện Nguyễn Tiến Hậu

khải về Thất vị thang Thọ tỳ tiễn, Gia Long 18 (1819).

 

Hiện nay Ngự dược nhật ký đã được Hội Đông Y tỉnh Thừa Thiên Huế sưu tập và toàn bộ đã được dịch xong.

 

II. TIÊN Y MIẾU

 

Nguồn gốc:

Tiên Y miếu 先醫廟 (còn có tên Tiên Y từ 先醫祠) là ngôi nhà thờ tổ và các thầy thuốc của ngành nghề Đông y Việt Nam nằm giữa hai số nhà 195 và 197 (cũ) đường Xuân 68, phường Thuận Lộc - Huế, cách cống Lương Y khoảng 200m về hướng Nam và hồ Tiên Y 50m về phía Tây. Vào thế kỷ XIX đều thuộc phường Thường Dũ. Sau vụ biến kinh thành (5-7-1885) đều nằm trong khu vực nhượng địa của thực dân Pháp rồi thuộc phường Vĩnh An. Sau năm 1975 thuộc khu vực 9 phường Thuận Lộc (còn có tên là khu vực Lương Y). Từ năm 1998 đến nay thuộc tổ dân phố 18.

Vị trí và nguồn gốc đền thờ Tiên Y qua sách cũ:

- "Đền Tiên Y ở phường Ninh Viễn trong kinh thành, đầu niên hiệu Gia Long, đền ở phường Dưỡng Sinh; năm Minh Mệnh dời đến xã An Ninh về phía Tây, ngoài kinh thành..." [2]

- "Nguyên vào năm Minh Mạng thứ 6 (1825) nhà vua cho lập miếu Tiên Y nằm bên tả chùa Thiên Mụ. Năm 1849 vua Tự Đức thấy chỗ đất ấy ẩm ướt, miếu lại nhỏ hẹp nên ban dụ giao cho Bộ Công tìm khu đất cao ráo để dời dựng lại cho rộng rãi hơn và giao cho Bộ Lễ sửa sang định lại việc phụng thờ các nghi tiết tế lễ. Mùa xuân năm 1850 đền Tiên Y được khởi công xây dựng tại phường Thường Dũ gồm một tòa 5 gian làm nơi thờ 40 vị Thánh Y, Tiên Y, đặc biệt vua Tự Đức còn cho làm riêng hai thần bài thờ các vị danh y Việt Nam và triều Nguyễn đề chữ: "Bản quốc liệt tiên danh y chi vị" "Bản triều liệt tiên danh y chi vị". Hàng năm vào dịp tết Nguyên đán, tháng 2 và tháng 11 âm lịch sai quan đến tế" [3].

- "Đền thờ Tiên Y có chính đường 3 gian 2 chái..., 2 tháng trọng xuân trọng thu Thái Y Viện đến tế. Năm Thành Thái 15 (1903) làm thêm hai nhà ở tả hữu"[4] .

- Bản đồ kèm theo do ông Nguyễn Thứ vẽ cũng có ghi rõ đền thờ Tiên Y từ (Temple du génie de la Médecine, Tiên Y từ) mang số hiệu 118 nằm trên địa phận của phường Thường Dũ cũ [5] .

Như vậy cho chúng ta biết rằng, nguyên trước đây khi quốc sơ, năm 1825 (Minh Mạng năm thứ 6) nhà vua ban cho Thái Y Viện 1 mẫu 7 sào làm nhà công ở địa phận 2 xã An Ninh thượng hạ thuộc huyện Hương Trà để dựng chỗ miếu thờ Tiên Y, trong đó thờ cả y tổ của Trung Quốc, Việt Nam và các vị danh y qua nhiều đời. Thường năm có 2 lần tế vào mùa Xuân và mùa Đông do Thái Y Viện làm lễ. Năm 1829 (Minh Mạng thứ 10) vua ban cho một bức hoành biển ở miếu Tiên Y, mỗi lễ có 40 quan tiền do Thái Y Viện tự làm lấy.

Năm 1849 (Tự Đức năm thứ 2) vua cho rằng việc dựng miếu Tiên Y ở làng bên trái chùa Linh Mụ, nơi ấy ẩm ướt hẹp hòi, cúng tế chưa đủ nên phải sửa sang lại, định lại nghi thức cúng tế, cầu an cho nhân dân nên đã dời về phường Thường Dũ trong kinh thành, (ngày nay thuộc khu vực 9 phường Thuận Lộc - Nội thành Huế) gọi là "Tiên Y từ". Sau lưng đền có hồ gọi là "Tiên Y hồ" như đã nói trên.

"Tiên Y từ" là nơi thờ Thánh Y, Lương y (thầy thuốc giỏi) và Tiên Y (thầy thuốc các đời trước) của Trung Quốc và Việt Nam. Đền thờ được xây dựng với chính đường 3 gian 2 chái, đặc biệt có hai thần bài thờ các danh y nước ta ("Bản liệt quốc triều danh y chi vị" và danh y triều Nguyễn (Bản triều liệt tiên danh y chi vị).

Hằng năm, chiếu lệ ngày giáp tháng hai và tháng 11 thì tế. Nhà vua cử một quan văn Tam phẩm đại diện đến làm lễ. Lễ gồm 3 tuần rượu và có bài văn tế, các viện sứ và các thuộc viên của Thái Y Viện làm quan phân hiến ở cá án thờ phụ. Đến năm 1903 (Thành Thái thứ 15) xây dựng thêm 2 nhà ở phía tả, phía hữu.

Thuở ấy vua ra lệnh trong phủ Thừa Thiên, chọn 10 tên dân ở 8 xã sung vào làm phu miếu. Những người làm phu miếu này được miễn thuế thân, miễn đi lính và làm phu dịch. Trong toán phục dịch đó có một người trưởng toán gọi là Bá hộ.

Từ những sự kiện lịch sử ấy, việc chuyển đền thờ Tiên Y ("Tiên Y từ") là ngôi đền thờ các vị Lương y từ làng An Ninh thượng hạ ở bên trái chùa Linh Mụ đến phường Thường Dũ (nay thuộc khu vực 9 phường Thuận Lộc) đặt ở gần cống Thanh Long (Đông Thành Thủy quan) ở phường Thanh Long cũ và cũng vì thế mà cống Thanh Long này được trở thành địa danh là cống Lương Y (khác với một số người cho rằng sở dĩ gọi tên cống Lương y vì gần đó là kho lương thực và áo quần, không hiểu được rằng cống được nằm gần bên nhà thờ của các vị lương y nên gọi là cống Lương y), mãi tới ngày nay như người ta vẫn thường gọi.

 

Tiên Y Miếu Huế (hiện nay)

 

Nhà bia Tiên Y Miếu Huế

              

Bi ký Tiên Y Miếu Huế (mặt trước, sau)

 

Một ngự y triều Nguyễn

(Vietnam emperor doctor indochina - tác giả: Pierre Dieulefils)

Tiên y miếu thờ ai ?

Đền thờ Tiên Y trải qua nhiều cuộc biến động của đất nước, bão lớn năm Thìn (1904), chiến tranh Pháp, Mỹ, ngôi đền này đã được dân địa phương trùng tu và tiếp tục cúng tế hàng năm, họ xem đền thờ Tiên Y này như một miếu thờ Thành Hoàng của khu vực, và có thần vị bằng giấy thường được phục chế lại do vua ban "Hoàng triều sắc tứ Đông y thượng đẳng lương y đệ nhất tôn thần 皇朝敕賜東醫上等良醫第一尊神" được thờ tại đền thờ ấy và mãi cho tới nay có người vẫn chưa biết trong miếu này thờ những ai.

Nếu nói tới "Văn thánh", "Võ thánh", thì đây là đền thờ "Y thánh" có tầm cở quốc gia mà Huế là thủ đô của triều Nguyễn.

Nguyên văn bài dịch dưới đây sẽ nói lên và cho chúng ta biết được rằng trong Tiên Y miếu thờ những ai và có liên hệ tới các thầy thuốc qua các đời ra sao, những thần vị của các thầy thuốc này chúng tôi được biết trước đây vẫn còn được bảo quản tại "Khâm thiên giám" qua lời của ông Phan Thanh Hải (giám đốc Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế) nhưng đến nay đã thất lạc.

 

Nguyên văn:

祭先醫明命六年奏準建立先醫廟于天姥寺之左謹按此次奉給官房舍土在香茶縣之安寧上下二社寔徵一畝七高以為建廟之所正中一案脾祀伏羲神農黃帝三位左一右一間配案望祀句芒祝火正風后力牧四氏左右兩廈從祀各案望祀歷代名醫歲以春冬二祭由太醫院行禮。十年旨先醫廟著給扁額一遞年春冬二祭每禮著賞錢四十貫由承天府祗領俾備牲粢禮品之需以本年春祭為始其祀典廟夫各款均由該院自行照辨。二十年諭近者北圻報災鎮西告警朕以民事邊籌稍覺不樂兼之冬令乖宜因而偶感節次太醫院所進藥方頗能有效玆朕躬現己十分清吉著禮部備辨三牲禮品于先醫廟賜祭一壇仍由御醫員行禮用答神庥。嗣德二年諭朕聞醫道雖小亦仁之術為九流中之最要也是故古之帝王賞藥定方以濟生生寔有功於天下萬世者也原年前所建先醫廟于天姥寺之左此地既屬卑濕規式頗亦窄挾而其中祀典尚屬關略未備所應再加修整明定典儀以廣壽世保民之道也著交工部量擇塽塏之地移建廟宇量加寬廣要得適宜仍俟開春班兵悉集之期即行構辨凡一應奉祀聖醫先醫正位配位及歲序祭儀著交禮部詳查書籍妥議候旨施行。三年議準先醫廟祀典參照明清典例辨理此次經奉移建先醫廟一座五間于京城內之常裕坊其正中間設祀案一奉祀太昊伏羲氏神位於正中炎帝神農氏神位於左黃帝軒轅氏神位於右均南向左一間稍南設配案一奉祀句芒氏之神風后氏之神均西向右一間稍南設配案一奉祀祝火正之神力牧氏之神均東向又于左二間設從祀一奉祀僦貸季天師岐佰佰高少師太乙雷公伊尹倉公淳于意元化黃甫謐棵巢元方藥王韋慈藏錢乙劉完素李明之之位又于右二間之南設從祀案一奉祀鬼臾區俞跗少俞桐君馬師皇神應王扁鵲張機王叔和抱樸子葛稚川真人孫思邈啟玄子王太僕朱肱張元素朱彥修之位均東西相向正案配案並從祀各案諸神位均請依式製造神牌明書神號以正名稱再。本國素稱文獻之邦自丁李以來千數百年精于醫者想亦不少惟史籍不傳姓號難從稽考玆請另製神牌二一統題本國列先名醫之位列入左從祀案繼李明之之次一統題本朝列先名醫之位列入右從祀案繼朱彥修之次於以垂示將來俾後學有所般勸向上奉祀正配並從祀該三十七位歲以春冬二仲甲日致祭請用文班三品官一員欽命行禮三獻具祝文其太醫院院使及院屬等員仍充配案及從祀各案分獻官正案用三牲粢盛東西配位二案每案用豕粢盛各一左右從祀二案每案用豕粢盛各三均有果品香燭芙酒齊備至如遞年元旦節禮合用香燭芙酒仍由太醫院正副御醫一員行禮三獻無祝文再請由承天府摘撥八社民十名充為該廟廟夫仍照例準免兵徭身稅諸務以充守護再于廟夫數內遴擇妥幹一人置為百戶俾有唱率再遞年常月每炤灼油二碟春冬正旦該三禮每禮增油四碟該仝年水油七百三十二碟每碟重油三兩五錢如遇閏月增領小月扣除又遞年每夜燒焚線香二兩五錢並諸禮節每禮增二兩五錢該仝年五十五斤十二兩以上春冬二禮合用粢盛果品並金銀香燭芙酒沈茶等項並正旦合用禮品各項均由該百戶單領官項官錢照辨陳設其蠟燭各項禮成後現存燭段若干均依例回納登庫。又奏準稽考醫書所載間有明儒李挻所著醫學入門一部可為初學指南與夫清儒張介賓之景岳全書六十四卷馮兆張之錦囊祕錄二千餘篇皆能探本窮源闡發古人精蘊近爽來業醫者初學必自醫學入門始而療治方法多專用景岳馮氏等書語其著書立言該三人均係有功醫道所應增入從祀之列請將李挻列入左從祀李明之之次馮兆張又次之張賓列入右從祀朱彥修之次其應製造神牌三件及應增辨酒品茶品均由有司按款製辨。

 

Dịch nghĩa:

TẾ TIÊN Y

Minh Mạng năm thứ 6 (1825), chuẩn y lời tâu: "Lập miếu Tiên Y ở bên tả chùa Thiên Mụ".

Kính xét: Lần này được ban cho đất làm nhà công ở địa phận hai xã An Ninh thượng và An Ninh hạ thuộc huyện Hương Trà, thực đất 1 mẫu 7 sào, làm chỗ dựng miếu thờ Tiên Y. Một án 9 gian giữa thờ 3 vị là Phục Hy, Thần Nông, Hoàng Đế. Gian tả nhất hữu nhất thờ phụ thờ vọng 4 vị là Câu Mang, Chúc Hỏa Chính, Phong Hậu, Lục Mục. Các án thứ phụ ở 2 chái bên tả bên hữu, thờ vọng các vị danh y qua các đời, mỗi năm mùa xuân mùa đông 2 lần tế, do Thái Y Viện làm lễ.

Năm thứ 10 (1829), ban Chỉ rằng: Cho làm một bức hoành biển ở miếu Tiên Y. Hằng năm xuân đông hai lần tế, mỗi lễ cho chi tiền công là 40 quan, do phủ Thừa Thiên lĩnh tiền sửa lễ phẩm xôi lợn, lấy tế xuân năm nay bắt đầu (1829). Về các khoản lệ tế và phu coi miếu, do Thái Y Viện tự làm lấy.

Năm thứ 10 (1829), Dụ rằng: Gần đây Bắc kỳ có thiên tai, thành trấn Tây nổi loạn, Trẫm lo nghĩ việc dân việc biên thùy, lòng không được vui. Lại vì khí hậu mùa đông trái tiết, rồi Trẫm bị cảm, nhiều lượt Thái Y Viện dâng thuốc, cũng có công hiệu, mình Trẫm đã được tốt lành. Vậy cho bộ Lễ sắm lễ tam sinh[6] đến miếu Tiên Y tế 1 tuần, vẫn do viên ngự y làm lễ để tạ ơn thần.

Tự Đức năm thứ 2 (1849), Dụ rằng: Trẫm nghe thầy thuốc dù nhỏ, cũng là thuật nhân từ, là việc cần thiết nhất trong 9 hạng[7] . Thế cho nên đế vương đời xưa, tìm vị thuốc, định bài thuốc, để giúp đời sống nhân dân, thực có công với thiên hạ vạn đời. Năm trước dựng miếu Tiên Y bên tả chùa Thiên Mụ, chỗ ấy đã ẩm ướt, kiểu mẫu miếu lại hẹp hòi, mà trong ấy lễ tế tự cũng còn thiếu sót chưa đủ. Nay nên sửa sang, định lại điều lệ nghi thức, để rộng đạo làm cho đời được sống lâu, giữ dân mạnh khỏe. Vậy giao cho bộ Công chọn lấy chỗ đất cao ráo, dời lại miếu ấy cho rộng rãi thêm ra cốt được vừa phải. Nhưng đợi đến mùa xuân sang năm, là kỳ ban hành đến chọn thời điểm khởi công làm. Còn các việc phụng thờ Thánh Y, Tiên Y, vị chính, vị phối[8] và ghi tiết tế lễ thế nào, thì giao cho bộ Lễ tra xét sách vở bàn cho ổn thỏa, tâu lên, đợi Chỉ thi hành.

Năm thứ 3 (1850), chuẩn y lời nghị: Lệ thờ miếu Tiên Y chiếu theo lệ nhà Minh, nhà Thanh mà làm. Lần này đã dời miếu Tiên Y 1 tòa 5 gian ở phường Thường Dụ trong kinh thành, ở chính gian giữa đặt 1 án, thờ thần vị Thái hạo Phục Hy thị ở chính giữa, thần vị Viêm đế Thần Nông thị ở bên tả, thần vị Hoàng đế Hiên Viên thị ở bên hữu, đều ngồi hướng Nam. Còn tả nhất hơi về đàng trước, đặt một án thờ thần Câu Mang thị, thần Phong Hậu thị, đều ngồi hướng tây. Gian hữu nhất hơi về nam, đặt 1 án thờ thần Chúc hỏa chính, thần Lực mẫu thị, đều hướng đông. Lại ở gian tả nhị đặt bài vị thờ phụ thờ các vị là: Tựu Thái Quý thiên sư, Kỳ Bá, Bá Cao thiếu sư, Thái Ất, Lôi Công, Y Doãn thương công, Thuần Vu Ý, Nguyên hóa Hoàng Phủ Mật, Sào Nguyên Phương, Dược vương Vĩ Từ Tàng, Tiền Ất, Lưu Hoàn Tố, Lý Minh Chi. Lại phía nam gian hữu nhị đặt án thờ phụ thờ các vị Quỹ Du Khu, Du Phụ, Thiếu Du, Đồng Quân, Mã sư Hoàng Thần, Ứng vương Biển Thước, Trương Cơ, Vương Thúc Hòa, Bão phu tử Cát Trĩ Xuyên, chân nhân Tôn Tư Mạc, Khải Huyền Tử, Vương Thái Bộc, Chu Quăng, Trương Nguyên Tố, Chu Ngạn Tu, hai bên đều đông tây hướng lại với nhau, các vị thần vị chánh án phối, án thờ phụ đều xin theo quy thức chế tạo thần bài, viết rõ thần hiệu cho được rõ ràng.

Lại nước ta vẫn gọi là nước văn hiến, từ nhà Đinh, nhà Lý đến nay, nghìn vài trăm năm, người giỏi nghề thuốc, tưởng cũng chẳng ít, duy sử sách không chép, họ tên khó xét ra được. Nay xin làm riêng 2 thần bài, 1 thần bài đề tóm tắt rằng: "Bản quốc liệt tiên danh y chi vị" [9]. Bày vào bên dưới Lý Minh Chi ở án thờ phụ bên tả, 1 thần bài đề tóm tắt rằng: "Bản triều liệt tiên danh y chi vị" [10]. Bày vào bên dưới Chu Ngạn Tu ở án thờ phụ bên hữu để tỏ bảo đời sau, cho kẻ hậu học được khuyến khích. Các vị thờ ở vị chính, vị phối, vị thờ phụ cộng cả thảy 37 thần vị. Mỗi năm cứ ngày giáp tháng giữa xuân và tháng giữa đông thì tế, xin dùng một viên quan văn tam phẩm vâng mệnh vua đi làm lễ. (Lễ 3 tuần rượu, có văn tế). Còn viện sứ và viện thuộc viện Thái Y Viện đến sung làm quan phân hiến ở án phối và các án thờ phụ. Án chính giữa lễ dùng tam sinh và xôi, 2 án phối vị ở đông tây, mỗi án dùng xôi lợn đều một cỗ, 2 án thờ phụ ở tả hữu, mỗi án dùng xôi lợn 3 cỗ, đều có quả phẩm đèn hương trầu rượu. Còn hàng năm tết Nguyên đán nên dùng đèn hương trầu rượu, vẫn do 1 viên chánh phó ngự y ở Thái Y Viện làm lễ (3 tuần rượu, không có văn tế). Lại cho phủ Thừa Thiên bắt lấy 10 tên dân ở 8 xã sung làm phu miếu ấy, chiếu lệ cho miễn thuế thân và đi lính cùng phu dịch, để coi giữ miếu ấy. Lại chọn trong 8 phu miếu, lấy 1 người làm việc giỏi, đặt là Bá hộ, để có người xướng suất. Lại hàng năm từng tháng mỗi đêm thắp 2 đĩa dầu. 3 lễ giữa xuân, giữa đông, chính đán, mỗi lễ thêm 4 đĩa dầu, cộng đồng niên dầu 732 đĩa, mỗi đĩa nặng 3 lạng 5 đồng cân, gặp tháng nhuận thì lĩnh thêm, tháng thiếu thì khấu trừ đi. Lại hàng năm mỗi đêm đốt hương vòng 2 lạng 5 đồng cân, các lễ tiết mỗi lễ thêm 2 lạng 5 đồng cân, hương vàng đồng niên 55 cân 12 lạng. Như trên này, 2 lễ đông xuân, cần dùng các thứ xôi, quả phẩm, giấy vàng bạc, đèn hương trầu rượu cùng các hạng dùng vào lễ chính đán đều do Bá hộ ấy làm đơn lĩnh của công tiền công mà chi biện trang trí. Còn những cây sáp khi làm lễ xong, còn mẫu sáp nào bao nhiêu, đều theo lệ nộp vào kho.

Lại chuẩn y lời tâu: Xét trong các sách thuốc có một bộ "Y học nhập môn" của Lý Diên nhà nho đời Minh làm ra, có thể làm kim chỉ nam cho người mới học làm thuốc, và bộ "Cảnh Nhạc toàn thư" 64 quyển của Trương Giới Tân nhà nho đời Thanh làm ra, và bộ "Cẩm nang bí lục" hơn 2000 thiên, của Phùng Triệu Trương, nhà nho đời Thanh làm ra, đều là sách thuốc nghiên cứu đến cội nguồn, phát huy tinh túy của cổ nhân. Gần đây người mới học thuốc tất học "Y học nhập môn" trước, mà dùng thuốc chữa bệnh, phần nhiều chuyên dùng các sách Cảnh Nhạc, Phùng thị. Về làm sách bàn thuốc ba người ấy đều có công với nghề làm thuốc. Nên thêm ba vị ấy vào hàng thờ phụ. Xin đem thần bài Lý Diên bày theo bên dưới Lý Minh Chi ở án thờ phụ bên tả, thần bài Phùng Triệu Trương lại bày vào dưới nữa. Thần bài Trương Giới Tân bày vào bên dưới Chu Ngạn Tu ở án thờ phụ bên hữu. Việc làm ba thần bài ấy, và nên sắm thêm rượu chè thế nào, đều do người giữ việc từng khoản mà làm.

 

 

Phụ bản: Một trang "Tế tiên y" trích trong "Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ " quyển thứ 258

 

PHỐI TRÍ Ở TIÊN Y MIẾU

 

Hiện nay Tiên Y Miếu được xây dựng lại thành 3 gian trang trí mang tính truyền thống trong các công trình kiến trúc cổ.

1. Hoành phi, liễn đối: [11]

Vị trí liễn đối hoành phi được sắp xếp từ ngoài vào trong, từ bên tả sang hữu (trong nhìn ra):

I. Ở tiền đường:

1. Phía trước hiên:

 - Ba bức hoành phi:

                                                                       

     THẦN ÂN                              TIÊN Y MIẾU                       THÁNH ĐỨC

               (Ơn thần)                 (Miếu thờ Thầy thuốc đời trước)         (Đức thánh)

 - Bốn câu liễn đối:

a. Hai bên trụ giữa:

                

                 

Mộc bổn thuỷ nguyên, vạn tải truy tư ân triệu thuỷ

Thần truyền Thánh kế thiên thu vọng tưởng nghĩa khai tiên

(Cây (có) gốc, nước (có) nguồn, vạn đời tưởng nhớ ơn khai thuỷ

Thần truyền, Thánh nối, nghìn thu nhớ mãi nghĩa mở bước đầu tiên)

b. Hai bên trụ ngoài:

                  

                   

Cảnh vũ trang nghiêm vạn cổ hương yên tòng điển tự

Lê dân lợi lạc tứ thời cảnh sắc tráng quan chiêm

(Cảnh miếu trang nghiêm, ngàn xưa khói hương theo điển lễ

Muôn dân lợi lạc, bốn mùa phong cảnh thấy uy nghi)

2. Phía trong tiền đường, tường trước miếu:

 - Ba bức hoành phi:

                                                 

  DIỆU HOÁ        HÀNH CHÁNH ĐẠO        HUYỀN CƠ

                         (Biến đổi vi diệu)    (Theo đường lối chánh)    (Máy huyền diệu)

II. Ở nội miếu: Hoành phi và liễn đối bằng gỗ sơn son thếp vàng:

 1. Ba hoành phi phía trước:

                                                                    

                                     DŨ HẬU         MINH ĐỨC      QUANG TIỀN

                           Để Đức cho đời sau     Đức sáng   Làm sáng người trước

 - Hai câu liễn đối trước:

                

                 

                                       Giáng tiên y đế khuyết thần kinh chung tú khí

                              Truyền hiển tích nam thiên thánh địa ngưỡng tôn nghiêm

                                    (Bày thuật chữa bệnh thần tiên, đế đô thần kinh un tú khí

                                    Truyền miếu xưa trời nam, đất thánh ngưỡng tôn nghiêm)

2. Hai câu liễn đối phía sau:

                   

                   

Thủ thánh đàm phu chương minh đại lục

Trí thần quảng bị phổ tế quần sinh

(Tay thánh rộng ban, sáng tỏ khắp đại lục

Trí thần trùm khắp, cứu giúp quần sinh)

Ngoài ra, một lư thiêu hoá sớ điệp kim ngân có hai bên 8 chữ triện:

除 病 到 藥

Dược đáo bệnh trừ

春 回 病 萬

Vạn bệnh hồi xuân

2. Bài vị:

Năm Tự Đức thứ 2,3 (1849, 1850), khi định hình Y miếu tại phường Thường Dũ (địa điểm hiện nay) đã thiết kế lại lệ thờ cúng ở Y miếu. Trong đó có 38 thần vị là các bậc Thánh y, Tiên y của nền y dược đông phương.

Đặc biệt, trong dụ năm Tự Đức thứ 3 (1850) ghi rằng: “Nước ta vẫn gọi là nước văn hiến, từ nhà Đinh, nhà Lý đến nay, nghìn vài trăm năm, người giỏi nghề thuốc, tưởng cũng chẳng ít, duy sử sách không ghi chép, họ tên khó xét ra được. Nay xin làm riêng hai thần bài: Một thần bài đề tóm tắt rằng: “Bản quốc liệt tiên danh y chi vị” (Bài vị thờ các vị danh y tiền bối của nước ta) và một thần bài đề tóm tắt rằng: “Bản triều liệt tiên danh y chi vị”. (Bài vị thờ các vị danh y tiền bối của triều Nguyễn)”.

 Việc thờ tự tại Y Miếu Huế mang đậm bản sắc dân tộc uống nước nhớ nguồn.

Trong đợt khôi phục Y miếu năm 2002, Hội Đông y Thừa Thiên Huế đã phối hợp với Hội Khoa học Lịch sử tỉnh và thành phố Huế, Phân viện văn hóa dân tộc, tổ chức Hội thảo “Đánh giá giá trị và phát huy giá trị văn hoá lịch sử Y miếu Huế trong giai đoạn mới” (Tháng 12-2008). Qua đó đã đề xuất việc thờ tự tại Y miếu như sau:

- Án giữa:

 Bài vị phía trước: (sắc phong như cũ trước đây đã có):

                         

(Hoàng triều sắc tứ đông y thượng đẳng lương y đệ nhất tôn thần).

 Hai thần vị phía sau:

                 

Đông phương liệt thánh liệt tiên danh y chi vị

Bài vị thờ các vị thánh y, danh y tiền bối phương Đông

             

Bản quốc liệt tiên danh y chi vị

Bài vị thờ các vị danh y tiền bối của nước Việt Nam

 Giữa bổ sung thêm hai di ảnh của đại danh y Hải Thượng Lãn Ông và Thiền sư Tuệ Tĩnh

- Bài vị án tả:

             

Bản triều liệt tiên danh y chi vị

Bài vị thờ các vị danh y tiền bối của triều Nguyễn

- Bài vị án hữu:

             

Thuận Hóa liệt tiên danh y chi vị

Bài vị thờ các vị danh y tiền bối của Thừa Thiên Huế

3. Nghi lễ:

 Hằng năm, thời phong kiến nhà Nguyễn tại Tiên Y Miếu cử hành tế lễ để nhớ ngày thầy thuốc vào hai mùa xuân thu (xuân thu nhị kỳ), quan tam phẩm triều đình đứng chánh bái. Ngày nay, nghi lễ cũng mô phỏng theo xưa nhưng có hơi giản lược một ít. Nội dung gồm các bước như sau:

- Ngày đầu làm lễ tiên thường (lễ cáo để mời các Ngài về dự)

- Ngày chánh lễ, ban nghi lễ làm lễ:

Phần 1: Kiểm soát lễ vật (xem xét lại lễ cúng)

Phần 2: Dạo đầu (chiêng trống, kèn thổi)

Phần 3: Bắt đầu tế lễ

Phần 4: Nội dung buổi tế lễ (phần đọc tiểu sử):

Phần 5: Đi vào tế lễ (gồm 3 lần dâng rượu, 1 lần dâng trà)

Dâng rượu

- dâng rượu lần thứ nhất (Đọc chúc văn)

- dâng rượu lần thứ hai

- dâng rượu lần thứ ba

Dâng trà

Phần 6: Lạy các án

Phần 7: Đốt vàng mả, đọc văn tế cô hồn

Phần 8: Xong lễ

 

Chánh tế còn gọi là chánh bái, Phụ tế còn gọi là phụ bái,

Trong những năm gần đây, từ khi bắt đầu phục chế lại lễ nghi tế lễ, người đứng chánh bái là Chủ tịch hoặc Phó chủ tịch của Tỉnh hội, hai phụ bái đứng bên án tả, hoặc án hữu được giao cho chủ tịch các huyện hội và Thị hội thay phiên nhau để làm phụ bái hai án thờ hai bên.

Tổng số người của ban nghi lễ 16 người, gồm:

Án giữa: 1 chánh bái, 2 bồi tế, 1 dâng hương.

Án trái: 1 phụ bái, 2 bồi tế, 1 dâng hương.

Án phải: 1 phụ bái, 2 bồi tế, 1 dâng hương.

1 đánh chiêng, 1 đánh trống.

1 cúng cô hồn, 1 phụ cúng.

Vật liệu cúng chính: Xôi, heo…

Bắt đầu như sau:

Ba hồi chiên trống dòn dã vang lên. Buổi tế lễ bắt đầu.

Người chủ xướng điều hành buổi lễ :

 

Phần 1. Kiểm soát lễ vật

1 - Xướng : Chấp sự giả, các tư kỳ sự. (Chuẩn bị vào công việc, ai lo việc nấy.) 

Các chấp sự đứng bên góc ngoài chiếu lần lược vào vị trí giữ chiếu của mình. Chánh bái và hai bồi bái đứng trước các hương án. 

2 - Xướng : Củ soát tế vật (Kiểm soát các vật tế lễ đã đầy đủ chưa)

Sáu chấp sự cầm đèn hầu ba vị chánh phụ bái vào nội điện để kiểm soát lại lễ vật, xong đi ra.

Đứng tại vị trí cũ (góc ngoài chiếu), còn bồi tế đứng hai bên.

 

Phần 2: Dạo đầu

1 - Xướng : Khởi chung cổ

Bắt đầu đánh chiêng trống hai bên đánh nhịp nhàng với nhau.

2 – Xướng :Nhạc sinh khởi nhạc

Ban tài tử khởi tấu nhạc lên (trống đánh kèn thổi). 

 

Phần 3: Bắt đầu tế lễ 

1 - Xướng : Chủ tế tựu vị.

Chủ bái, phụ bái đến vị trí chiếu giữa của mình.

2 - Xướng : Nghệ quán, tẩy sở.

Chánh, bồi bái chuẩn bị lui đến ở thau nước có sẵn.

3 – Xướng : Quán tẩy 

Chánh, bồi bái thò tay vào rửa tay.  

4 - Xướng : Thuế cân.  

Chánh, bồi bái lau tay, rồi đứng chờ xướng

5 – Xướng : Chủ lễ thăng hương

Chánh bái trở về đứng nghiêm trang trước hương án.

6 – Xướng : Phân hiến viên tựu vị

Hai bồi bái chuẩn bị vào vị trí cũ

7. Xướng : Bồi tế viên tựu vị

Bồi bái vào vị trí của mình

8 – Xướng : Chủ tế tại vị

Chủ bái vào vị trí của mình

 

Phần 4: Nội dung buổi tế lễ (phần đọc tiểu sử):

1 – Xướng : Độc tiểu sử

Đọc tiểu sử của Ngài (có thể người xướng đọc, nếu hay hơn có một người giọng hay tốt đọc) 

2. Xướng : Nghệ hương án tiền (chánh phụ bái lên đứng trước án)

3. Xướng : Quì 

Chánh bái quì xuống

4. Xướng : Giai quì

Cả ba án chánh bái, phụ bái đều quì

5. Xướng : Phần hương

Đốt hương cho chủ tế

6. Xướng : Quỳ

Quỳ xuống

Chánh bái quì xuống

7. Xướng : Thượng hương

Chủ tế đưa hương cho bồi tế lên thắp

8. Xướng : Phủ phục

Lạy xuống

Chủ tế lạy 

9. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy 

10. Xướng : Bái 

Cả ba vái xuống

11. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

12. Xướng : Bình thân

Nghỉ ngơi

 

Phần 5: Đi vào tế lễ

1. Xướng : Nghênh lễ cúc cung bái

2. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

3. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống

4. Xướng : Hưng

5. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống

6. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

7. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống 

8. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

9. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống 

10. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

11. Xướng : Bình thân 

Nghỉ ngơi

 

(Đọc chúc văn) 

 

        1. Dâng rượu (các Ngài dùng bữa, gồm 3 tuần rượu)

      - lần thứ nhất

1. Xướng : Hành sơ hiến lễ

Hành lễ bước thứ nhất

2. Xướng : Nghệ tôn sở vi tiền

(chánh phụ bái đưa chén rượu tới trước)

3. Xướng : Quì

4. Xướng : Giai quì

Cả ba đều quì

5. Xướng : Tiến tửu

Rót rượu

6. Xướng : Quì

Quì

7. Xướng : Hiến tửu

Rót rượu

8. Xướng : Phủ phục

Cúi xuống

9. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy 

10. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống 

11. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

12. Xướng : Bình thân

Nghỉ ngơi

13. Xướng : Nghệ độc chúc vị

14. Xướng : Quì

15. Xướng : Giai quì

Cả ba đều quì

16. Xướng : Độc chúc

Đọc chúc văn

17. Xướng : Phủ phục

Cúi xuống

18. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

19. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống

20. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

21. Xướng : Bình thân

Nghỉ ngơi

 

      - lần thứ hai

1. Xướng : Á hành hiến lễ

Hành lễ bước thứ hai

2. Xướng : Nghệ tôn sở vi tiền

(chánh phụ bái đưa chén rượu tới trước)

3. Xướng : Quì

4. Xướng : Giai quì

Cả ba đều quì

5. Xướng : Tiến tửu

Rót rượu

6. Xướng : Quì

Chánh bái quì

7. Xướng : Hiến tửu

Đưa rượu

8. Xướng : Phủ phục

Cúi xuống

9. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

10. Xướng : Bình thân

Nghỉ ngơi

 

      - lần thứ ba

1. Xướng : Hành chung hiến lễ (Hành lễ bước thứ ba)

2. Xướng : Nghệ tôn sở vi tiền

(chánh phụ bái đưa chén rượu tới trước)

3. Xướng : Quì

4. Xướng : Giai quì

Cả ba đều quì

5. Xướng : Tiến tửu

Rót rượu

6. Xướng : Quì

Quì

7. Xướng : Hiến tửu

Đưa rượu

8. Xướng : Phủ phục

Lạy cúi xuống

9. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

10. Xướng : Bình thân

Nghỉ ngơi

 

          2. Dâng trà (các Ngài dùng bữa xong, thời trà)

1. Xướng : Quì

2. Xướng : Giai quì

Cả ba đều quì

3. Xướng : Hiến trà

Đưa trà

4. Xướng : Phủ phục

Chánh bái bái lạy

5. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

6. Xướng : Bình thân

Nghỉ ngơi

 

Phần 6: Lạy các án

1. Xướng : Phân ban

Cả ba Chánh bồi tế chia nhau lạy ba án

2. Xướng : Phục vị

Xong vào đứng vào vị trí cũ

3. Xướng : Lễ tạ cúc cung bái

4. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

5. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống

6. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

7. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống

8. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

9. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống

10. Xướng : Hưng

Cả ba đứng dạy

11. Xướng : Bái

Cả ba vái xuống

12. Xướng : Hưng

Cả ba Chánh bồi tế đứng dạy

13. Xướng : Bình thân

Nghỉ ngơi

 

Phần 7: Đốt vàng mả, chúc văn

1. Xướng : Đệ chúc văn kim ngân

Đem chúc văn vàng bạc đi đốt

2. Xướng : Nghệ liệu sở vọng hậu

Cả ba Chánh phụ tế đứng ngó ra ngoài xem đốt

3. Xướng : Phần chúc

Đốt chúc văn, vàng mã

 

Phần 8: Xong lễ

4. Xướng : Phục vị

Đứng vào vị trí cũ bái ba bái

5. Xướng : Lễ tất

 

Lễ cúng Cô hồn trước sân bắt đầu.

 

 

Lễ giỗ ngài Hải Thượng hằng năm vào ngày 15 tháng giêng âm lịch

 

 

Đọc chúc văn nhân ngày giỗ ngài Hải Thượng

 

 

Cúng cô hồn trước Tiên y miếu nhân các ngày giỗ

 

 

Ban nghi lễ (phụ trách chiên)

 

 

 

 

 

 

Lễ giỗ thiền sư Tuệ Tính hằng năm vào ngày 15 tháng hai âm lịch

 

 

Ban nghi lễ (phụ trách trống)

 

 

 

Ban tài tử (phụ thêm trong các ngày lễ)

 

 

 

Ban nghi lễ của hội Đông y tỉnh. (Chủ bái: Ly. Lê Quý Ngưu, năm 2015)

 

 

BI KÝ TIÊN Y MIẾU [12]

 

 

 

Chú âm:

Thuận Hoá Tiên Y Miếu bi ký

Thử nãi Nguyễn triều Tiên Y Miếu chi di tích dã, hệ thị phụng Đông phương dữ Việt Nam y học giới chư thánh y tiền bối danh y chi địa điểm, thuộc cố đô quần thể di tích chi nhất.

Y miếu lập ư Gia Long niên đại chí Ất dậu Minh Mạng lục niên  thiên chí cận Thiên Mụ tự vi lệnh quy mô hoá ư Kỷ dậu niên chí Canh tuất niên Tự Đức thời kỳ ư Thường Dũ phường kim chi địa điểm lánh kiến tân miếu. Tiên Y Miếu thuộc Quốc miếu cấp do triều đình quản lý.

Tự nhị thập thế kỷ chi thượng bán thế kỷ cái ư lịch sử biến động chiến tranh thiên tai Y miếu nhật tiệm suy lạc thành vi hoang phế vi diệc súc tiểu.

Nhâm ngọ niên chí Giáp thân niên Y miếu ư nguyên lai thặng hạ tế tiểu chi diện tích hoạch phục tu, kinh phí do Tỉnh nhân uỷ bạt khoản dữ Đông y hội hội viên hợp quyên tu tạo thị phụng dữ bảo tồn sự hạng y chiếu cổ nghi thức tiến hành.

Tiên Y Miếu hệ nhất sở văn hoá thiết chế thử bất cẩn lệnh Phú Xuân kinh thành chi diện mạo phong phú, cánh hệ Nguyễn triều đối dân tộc y học giới chi trị quốc chính sách căn cứ tư liệu, thử nãi hệ nhất sở Nguyễn triều thời ngã quốc Đông y giới thị phụng y tổ tối quan trọng yếu chi miếu vũ dã. Nhất sở khẳng định tôn sùng dữ minh ký chư thánh y tiền bối danh y quang diệu y sư hành nghiệp truyền thống cao thượng y đức y thuật chi công chi cơ cấu Việt nam thế đại lương y biểu hiện đạo lý dữ tình cảm ẩm thuỷ tư nguyên, tri ân Tổ sư chi xứ dã.

Tuế thứ Nhâm Thìn niên lục nguyệt thập nhật

Lập thu

Thuận Hoá Đông Y Tỉnh Hội

Phụng ký

 

 

Dịch nghĩa:

BIA GHI Y MIẾU HUẾ

 

 Nơi đây là di tích Tiên y miếu Triều Nguyễn, nơi thờ phụng các vị Thánh y, danh y tiền bối của nền Y học Đông phương và Việt Nam, nằm trong quần thể di tích Cố đô.

- Y miếu đươc lập vào thời Gia Long, đến năm Minh Mạng thứ 6 (1825) được dời về gần chùa Thiên Mụ. Năm 1849-1850, để qui mô hơn thời Tự Đức xây miếu mới ở phường Thường Dũ (địa điểm hiện nay).

Tiên y miếu thuộc hạng quốc miếu do triều đình quản lý.

Từ khoảng giữa đầu bán thế kỷ 20, do biến động lịch sử, chiến tranh, thiên tai, Y miếu ngày càng xuống cấp, trở thành hoang phế, khuôn viên thu hẹp dần.

- Năm 2002- 2004, miếu được khôi phục trên diện tích ít ỏi còn lại, kinh phí do UBND tỉnh cấp và Hội viên Đông y quyên góp tôn tạo lại. Việc phụng thờ bảo tồn theo nếp xưa.

- Tiên y miếu là một thiết chế văn hóa không chỉ góp phần làm phong phú diện mạo kinh thành Phú Xuân, mà còn là cứ liệu để tìm hiểu chính sách trị quốc của Triều Nguyễn đối với nền Y học dân tộc. Đây là ngôi nhà thờ Tổ quan trọng nhất của ngành Đông y nước ta dưới thời Nguyễn, một cơ sở để khẳng định, tôn vinh và ghi công các bậc Thánh y, danh y tiền bối hữu công đã làm rạng rỡ truyền thống y đức, y thuật cao đẹp của nghề Thầy thuốc, nơi thể hiện đạo lý và tình cảm uống nước nhớ nguồn, tri ân tổ sư của các thế lệ lương y Việt Nam.

Mồng 10 tháng 6 năm Nhâm thìn

(ngày 28 tháng 7 năm 2012)

 Hội Đông y tỉnh Thừa Thiên Huế

 

 

III. BÌNH AN ĐƯỜNG

Bình An Đường có một giá trị nhất định đối với các nhà nghiên cứu y học cổ truyền thời Nguyễn. Sự độc đáo của Bình An Đường chính là một “bệnh viện cung đình” đặc biệt, chỉ dành riêng cho các thái giám, cung tần, mỹ nữ các triều vua nhà Nguyễn.

Dựa theo “Lịch triều hiến chương loại chí”, người đời nay biết được Bình An Đường được xây dựng vào năm 1823, theo ý chỉ của vua Minh Mạng. Vị vua này vốn có một số vợ, con rất đông vì vậy đòi hỏi phải có một số thái giám, cung nữ đông đảo không kém để phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày. Để chữa trị cho hàng ngàn con người ấy mỗi khi ốm đau, bệnh tật…Minh Mạng đã cho xây riêng một khu an dưỡng, khám, điều trị bệnh, đặt dưới sự trông coi của Thái Y Viện.

Bình An Đường

 

Để tiện cho việc đi lại điều trị, an dưỡng những người phục dịch trong cung đình, nên Bình An Đường được xây dựng sát bên cửa hậu của hoàng thành Huế (hiện nay là đường Đặng Thái Thân, TP.Huế). Bình An Đường chia thành hai phần: nhà khám, bốc thuốc, châm cứu.. để chữa bệnh. Và nhà an dưỡng dành cho những bệnh nhân già, yếu không thể đi lại được. Phía Bắc của Bình An Đường có riêng một tòa Cung Giám Viện- nơi ngày xưa các thái giám ăn ở, chờ đợi được khám, chữa bệnh (theo phong tục vẫn phải tách rời các thái giám (á nam) với phụ nữ).

Do chức năng, trong khuôn viên Bình An Đường chỉ trồng các loài hoa và cây thuốc nam để tiện sử dụng cho việc chữa bệnh. Các thầy thuốc đến làm việc tại Bình An Đường do Thái Y Viện phân công. Đa phần họ đều là các thầy thuốc giỏi, đức độ. Tất cả thuốc men điều trị đều lấy trong kho thuốc hoàng cung, bệnh nhân không phải trả tiền.

 

IV. PHỤC HỒI THÁI Y VIỆN HUẾ

Hiện tại trong Đại Nội Huế vẫn còn lưu lại dấu tích của Thái Y Viện.

Kế thừa để phát huy truyền thống vùng đất ngự y, đội ngũ cán bộ y học cổ truyền Thừa Thiên - Huế thông qua hoạt động hội các năm qua đã làm được nhiều việc nhằm củng cố và phát triển thế mạnh về y học cổ truyền trong tổ chức mạng lưới, khám chữa bệnh, kết hợp Tây y với y học cổ truyền, các hoạt động kế thừa, đào tạo nguồn nhân lực, hội thảo chuyên môn…

Vừa qua, trong Festival - Huế 2014, ngoài chương trình các hoạt động văn hóa nghệ thuật đa dạng phong phú nhiều màu sắc thì trung tâm Bảo Tồn Di Tích Cố Đô Huế kết hợp với hội YHCT tỉnh lần đầu tiên tổ chức không gian Thái Y Đường, có các bác sĩ, lương y tái hiện hình ảnh của các vị Thái Y triều đình Nguyễn trước đây để bắt mạch, kê đơn, bốc thuốc cho du khách trong ngoài nước như trình tự năm xưa phục vụ khám chữa bẹnh cho vua quan. Đây là hoạt động có ý nghĩa khởi động cho việc phục hồi Thái Y Viện sắp đến.

 


Tái hiện hình ảnh các vị Thái Y triều đình Nguyễn trong dịp Festival Huế 2014.

 

Vào năm 2012, Tỉnh ủy Thừa Thiên - Huế đã ban hành nghị quyết về xây dựng tỉnh xứng đáng là trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung và cả nước giai đoạn 2012-2015 và tầm nhìn đến năm 2020. Xuất phát từ nhận thức rõ giá trị về kế thừa và phát huy thế mạnh YHCT của vùng đất ngự y. Do đó, trong nghị quyết phần nói về YHCT có nêu chỉ tiêu “Hoàn thành phục hồi Thái Y Viện vào năm 2015”.

Trên cơ sở này khi dự án phục hồi Thái Y Viện hoàn thành sẽ triển khai thêm Thái Y Đường ở các địa điểm di tích khác để phục vụ du khách tham quan và hình thành thêm một sản phẩm dịch vụ du lịch mới cho vùng đất di sản Huế.

Triển vọng trong thời gian tới

Với nghị quyết của Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế đã cụ thể hóa chỉ thị số 24/2008 của Ban Bí thư TW Đảng, Quyết định số 2166 ngày 30.11.2010 về phát triển y học cổ truyền trong tình hình mới, hội YHCT Tỉnh đã cõ điều kiện thuận lợi để phát huy kết quả hoạt động của tổ chức hội nghề nghiệp kể từ lúc được thành lập sau ngày giải phóng Huế ( 26/3/1975).

Trên cơ sở các thành quả đã đạt được, hy vọng trong thời gian tới, hội YHCT Thừa Thiên Huế sẽ có những bước phát triển mới bền vững,đầy hứa hẹn nhất là thời điểm hoàn thành phục hồi Thái Y Viện đưa vào hoạt động. Rất hoan nghênh ý tưởng của hội: cùng với những bài thuốc chữa bệnh hiệu nghiệm, sẽ ra đời một số loại trà, rượu cung đình… là những sản phẩm mới phục vụ du lịch thu hút du khách đén với Huế.

 

GIÁ TRỊ LỊCH SỬ VĂN HÓA

Thái Y Viện, Tiên Y miếu, Ngự dược nhật ký, Bình An Đường… là những giá trị phi vật thể, những công trình kiến trúc được các vua đầu triều Nguyễn chú tâm xây dựng sớm vào thời lập quốc cùng với các công trình thành quách, đền đài, lăng tẩm khác. Thái Y Viện, Tiên Y miếu, Ngự dược nhật ký, Bình An Đường… không những góp phần làm phong phú thêm cho diện mạo kinh thành Phú Xuân mà còn là một tư liệu lịch sử để tìm hiểu chính sách trị nước của triều Nguyễn trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội và y tế, cùng với sự quan tâm của các vua qua nhiều triều đại Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức, ... Duy Tân đối với nền Y học dân tộc của nước nhà. Mong rằng Hội Đông y tỉnh Thừa Thiên - Huế sau khi nhận bảng xếp hạng “Di tích cấp Tỉnh và Thành phố” (tháng 2 năm 2016) nên kết hợp với Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế để gánh phần trách nhiệm bảo quản sau khi đã tôn tạo xong Tiên Y Miếu.

 

 

Lễ nhận bảng xếp hạng “Di tích cấp Tỉnh và Thành phố”

(tháng 2 năm 2016)

 

 

[1] Nguồn Thái Y viện - Nha môn khám chữa bệnh trong hậu cung qua tài liệu Mộc bản triều Nguyễn” (Thơm Quang – Hồng Loan)

[2] Đại Nam Nhất Thống Chí, (quyển I, Kinh sư) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn đời Tự Đức (bản dịch của Viện Sử học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1969, trang 66).

[3] Khâm Định Đại Nam hội điển sự lệ, quyển thứ 258 (bản dịch của Viện Sử học, Nxb Thuận Hóa Huế, 1992, tập 15, trang 436 đến 439) và Đại Nam Thực Lục Chánh Biên, đệ tứ kỷ I, quyển V (bản dịch Viện Sử học, Nxb KHXH, Hà Nội, 1973, tập 27, trang 231, 232).

[4] Đại Nam Nhất Thống Chí, đời Duy Tân, trong tập Kinh sư (bản dịch của Nguyễn Tạo, Nha Văn hóa, Bộ Quốc gia giáo dục xuất bản, Sài Gòn, 1960, trang 45), sử quán triều Nguyễn.

[5] Tập san Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) số 1, 2/1933 kèm các bản đồ mang số hiệu 118 nằm trên địa phận của phường Thường Dũ cũ.

 

[6] Lễ có đủ 3 thứ sinh vật: bò, lợn, dê.

[7] Chín hạng: 1. Đạo nho, 2. Đạo tu tiên, 3. Đạo địa lý phong thủy, 4. Đạo phù thủy, 5. Nhà danh nghĩa hội, 6. Nhà thuyết khách, 7. Các nhà biệt lập khác, 9. Nhà nông, 9. Đạo Mặc.

[8] Thánh y là thầy thuốc rất giỏi. Tiên y là thầy thuốc giỏi đời trước, vị chính là vị thờ chính. Vị phối là vị thờ phụ.

[9] Bài vị thờ danh y các đời trước đây của nước Việt Nam.

[10] Bài vị thờ danh y các đời trước đây của triều Nguyễn.

[11] Những câu đối liễn này do nhà nghiên cứu Vĩnh Cao đặt sau khi Tiên Y Miếu được trùng tu.

[12] Năm 2012, toàn bộ nhà bia được xây dựng mới với sự đóng góp của: Bs. Đặng Mai Hoa, Bs. Nguyễn Quang Hợp, Ly. Nguyễn Chê, Ly. Dương Đương, Ly. Thích Tuệ Tâm, Ly. Phan Đình Tẩn. Nội dung văn bia chữ Việt  Thạc sĩ Phan Tấn Tô viết, Lương y Lê Quý Ngưu phiên âm và dịch ra chữ Hán.

Bài viết này có 0 bình luận

Viết một bình luận :